Đối với việc Phu Mãnh được Tiết Nương, y không phục chút nào, hơn nữa y quen biết Tiết Nương trước, cho nên có cảm giác bị Phu Mãnh hoành đao đoạt ái. Sau khi mất Tiết Nương, y đã chung đụng với vô số nữ nhân khác, lại thủy chung không có ai có thể thay thế được nàng. Mấy năm gần đây, y cưỡng bách mình không nghĩ tới nàng, cũng có thành công phần nào, nhưng sự xuất hiện của Tiết Đình Hao lại vực dậy tất cả mọi hồi ức khiến cho y tan nát cõi lòng, khơi khơi lại không thể nói với ai, chỉ có thể lẳng lặng chịu đựng trong đáy lòng, đó là một thứ thống khổ không tên.
Hiện tại có triển vọng bắt được Tiết Đình Hao, sự khắc chế gắng gượng cho đến nay cuối cùng đã sụp đổ, nghĩ đến đó, chiến mã chợt đứng sựng dậy, bốn bề toàn là thanh âm chiến mã dậm vó hí hoảng hỗn loạn.
Quý Nhiếp Đề sực tỉnh khỏi cơn suy tư, con ngựa đã trải qua huấn luyện hà khắc không còn chịu sự khống chế của y nữa, vụt thoái lùi ra sau. Nhìn trái nhìn phải, đám thủ hạ không có ai không cùng một hoàn cảnh, mặc cho bọn họ quát thét chế ngự thế nào, chiến mã vẫn kinh hoàng chạy lùi.
Ý niệm đầu tiên của y là đụng phải bầy sói, nhưng đằng trước trống trống không không, ngoại trừ làn sương mong manh như một tấm lụa mỏng lan man vùng đầm lầy gò hoang đằng trước ra, đâu còn gì khác.
Thoái mãi ngoài mười trượng, chiến mã cuối cùng bình tĩnh lại, hồi phục như thường, chỉ còn lỗ mũi “khì khì” khịt hơi.
Mọi người tỉnh táo trở lại, đưa mắt nhìn nhau, không ai rõ đã xảy ra chuyện gì. Cuối cùng mục quang tập trung lên mình Quý Nhiếp Đề, ai bảo y là đầu lãnh.
Quý Nhiếp Đề lần đầu có vẻ sợ Vân Mộng Trạch, lẽ nào lời nói của Phụng công công là thật, cổ thành trong đầm có thần linh trấn thủ?
Chợt tiếng vó ngựa vang lên, mọi người nhìn về phía tiếng vọng trong làn sương mỏng đằng trước, như ẩn như hiện, tựa như có kỵ sĩ hiện thân trên gò đồi đằng xa, vụt lại biến mất không thấy đâu. Tiếng vó ngựa lại tiếp tục truyền vào tay bọn họ, dần dần tiếp cận.
Lẽ nào sự kinh hoàng thất thố của chiến mã là vì đó mà ra?
Quý Nhiếp Đề nghĩ đến có lẽ là u linh kỵ sĩ thời Chiến quốc xa xưa, lãnh tĩnh thâm trầm như y mà cũng không khỏi phải rùng mình phát lãnh, đám thủ hạ của y càng đâu cần phải nói tới.
o0o
Chu Bàn Tử đứng dậy, nghênh tiếp Bách Thuần dưới lầu, cười hỏi: “Con gái ngoan của ta ngủ có ngon không?”.
Bách Thuần mới rửa mặt chải đầu qua loa, phong tư yêu kiều lười biếng đáp: “Ngủ ngon không biết bao nhiêu mà kể, cha thật đến đúng lúc quá, con gái có chuyện muốn thỉnh giáo!”.
Chu Bàn Tử rất ít khi được Bách Thuần tôn kính như vậy, khoái chí nói: “Ngồi xuống rồi hãy nói. Bách Thuần chắc biết cha cưng chiều con, con thích hỏi gì cũng được, cha biết gì nói đó, nói hết mới thôi”.
Bách Thuần ngồi xuống bên cạnh lão, tâm tình thư giãn thốt: “Trước hết nói chuyện của cha đi! Có phải lại muốn con đi chào hỏi lão Tiền không?”.
Chu Bàn Tử hân hoan: “Con gái đêm hôm qua chịu hầu lão Tiền lâu như vậy, đủ cho cha mặt mũi rồi, ta còn có thể nào không biết điều như vậy chứ”.
Bách Thuần thầm nghĩ ngươi nghĩ vậy là tốt hơn hết, mà nói thật ra, đêm nay nàng trông chờ gặp được Tiền Thế Thần, nghe gã kể cố sự cho xong, hiện giờ lại bị câu treo lơ lửng giữa trời.
Chu Bàn Tử trịnh trọng rút trong mình ra một cái ống trúc nhỏ, đưa cho nàng: “Là phu nhân từ kinh sư gửi đến, muốn con giao cho tay săn lãnh thưởng Cô Nguyệt Minh mà Hoàng thượng ngự dụng. Hừm! Không ngờ Cô Nguyệt Minh lại đến Lạc Dương, khẳng định là có chút quan hệ với Ngũ Độn Đạo”.
Nghe nói đến Ngũ Độn Đạo, đôi mắt đẹp của Bách Thuần lập tức sáng lên. Tiếp lấy ống trúc nhỏ, cẩn thận chăm chú nhìn dấu sơn sáp bịt đầu ống, nghiệm minh là ấn ký của Hoa Mộng phu nhân, ngạc nhiên thốt: “Sư tỷ mỗi một lần đều sai người mang thư đến, chuyến này sao lại dùng phi cáp truyền thư?”.
Chu Bàn Tử nói: “Sự tình rất cổ quái, mật hàm là do Mã Công Thành của Lạc Dương bang đích thân đem giao cho ta, còn nói chuyện này chỉ cho phép một mình con biết, thật không biết là chuyện gì đây”.
Bách Thuần đem ống trúc nhét vào túi kín trong mình: “Con gái làm sao biết ai là Cô Nguyệt Minh?”.
Chu Bàn Tử cười khà khà: “Nghe nói kiếm của Cô Nguyệt Minh nhanh nhất thiên hạ, Bách Thuần thử là biết liền”.
Bách Thuần nhăn mặt: “Đừng có nói đùa mà. Cha hồi nãy nhắc tới Ngũ Độn Đạo, có tin tức liên quan tới hắn sao?”.
Chu Bàn Tử ngạc nhiên: “Tin tức của Bách Thuần không phải luôn luôn linh thông hơn ta sao? Không ngờ không biết Ngũ Độn Đạo đã giết Hoàng Phủ Anh con trai của Hoàng Phủ Thiên Hùng, bị Đại Hà Minh toàn lực truy sát, Khâu Cửu Sư và Nguyễn Tu Chân chính là vì chuyện này mà đến Lạc Dương thành. Thật không ngờ Ngũ Độn Đạo biết bao nhiêu chỗ không đi, khơi khơi lại chọn thành ấp có trọng binh đồn trú này mà đến”.
Bách Thuần trầm tư một hồi, thốt: “Con đã từng gặp Ngũ Độn Đạo”.
Chu Bàn Tử thất thanh: “Con đang nói chơi hả?”.
Bách Thuần đôi mắt bắn ra ánh sáng như mộng ảo, dịu giọng: “Về phương diện này cha không cần để ý tới, là chuyện giữa con và Khâu Cửu Sư. Bất quá cha đã nói đúng một chuyện, là Ngũ Độn Đạo cuối cùng phát giác mình ngu xuẩn vô cùng, hôm nay mới sáng sớm đã trốn khỏi Lạc Dương thành. Hì! Tiểu tử đó thật có nghề, ta cũng bị hắn qua mặt”.
Chu Bàn Tử hiển nhiên không có hứng thú đối với Ngũ Độn Đạo, đang định nói gì, liếc thấy Diễm Nương cầm một quyển họa tới, vỗ trán: “Lại là họa quyển con bà nó, ta sau này không cần xem mấy thứ đó nữa chứ?”.
Bách Thuần lại phát giác Diễm Nương thần sắc rất cổ quái, bộ dạng chừng như run run chấn động, rúng động trong lòng hỏi: “Lần này là hàng gì đây?”.
Diễm Nương không nói gì, đi thẳng đến trước bọn họ, hai tay mở họa quyển ra, để hai người nhìn xem, ngôn ngữ như đột nhiên biến thành không còn trọng yếu nữa, chỉ có hình trên họa quyển là có thể thuyết minh mọi sự.
Chu Bàn Tử và Bách Thuần mục quang không hẹn mà cùng chui lên bức họa, thời gian như đột nhiên ngừng trôi.
Trên quyển vẽ một mỹ nữ trên một chiến xa cổ, vẽ truyền thần làm sao, khiến người ta có cảm giác người trong họa bất cứ lúc nào cũng có thể từ chiến xa cổ trong hình xông ra, chân thực làm sao, tràn trề cảm giác sống động. Cái đả động người ta nhất là ánh mắt của mỹ nữ, bắn thấu ra một thứ thần tình phức tạp đến mức người ta không có cách nào nắm bắt được.
Tuy chỉ có hai màu đen trắng, nhưng mức độ đậm lợt sáng tối có giai điệu, tạo ấn tượng sắc thái rực rỡ hơn người, cảm giác chân thật mạnh mẽ, làm cho mỹ nữ càng kiều diễm tuyệt luân, phiêu hốt như thần. Cái càng khiến cho người ta chấn động là người vẽ tựa như thông qua ngòi bút, đem dốc hết thâm tình tựa biển cả vào bức họa, phú cho mỹ nữ trong họa một thứ ý nghĩa hàm ẩn khắc sâu vượt quá hình tượng, một thứ gì đó người ngoài khó hiểu nổi, bí mật đó chỉ thuộc về hắn và mỹ nữ trong họa.
Đất trời trong bức họa tràn trề sức sống chân thực làm sao.
Diễm Nương hưng phấn lớn tiếng: “Không ngờ được! Tôi cũng không ngờ được! Tiểu tử đó tuy là một sắc quỷ, nhưng lại không khoa trương, vật vẽ ra có mấy phần tiên khí”.
Bách Thuần đôi mắt không chớp đăm đăm nhìn ánh mắt của mỹ nữ trong họa, nhìn chăm chú làm sao, hoàn toàn không có phản ứng.
Diễm Nương quay sang Chu Bàn Tử: “Lão bản, hắn vẽ được chứ?”.
Chu Bàn Tử như mộng du: “Chu Bàn Tử ta xem hình mỹ nhân chỉ có một tiêu chuẩn, giống hay không giống là thứ yếu, quan trọng nhất là có thể dẫn dụ sắc dục của ta, muốn cùng mỹ nữ trong họa lên đỉnh Vu Sơn hay không. Con bà nó! Nếu mỹ nữ này chịu cùng trải đêm xuân với ta, Chu Bàn Tử ta chịu giảm thọ mười năm, ngươi nói coi bức họa của tên tiểu tử đó có sức dụ hoặc kinh hồn tới cỡ nào! Chỉ có sắc quỷ mới vẽ được một bức họa như vầy”.
Diễm Nương khích động, mếu máo lẩm bẩm: “Hắn tự xưng là Họa Tiên, tôi ban đầu còn khịt mũi...”.
Chu Bàn Tử mất kiên nhẫn, quát: “Mặc hắn có phải là Họa Tiên hay không, chỉ cần có thể câu khách là được, còn không đi kiếm hắn đến gặp bọn ta”.
Diễm Nương đang định bỏ đi, Bách Thuần thốt: “Đưa cho ta!”.
Diễm Nương đưa họa quyển, bươn bả đi ra, Bách Thuần cầm họa quyển, lại mở ra xem.
Chu Bàn Tử khó che giấu được vẻ vui mừng, hỏi: “Con gái ngoan có đồng ý lời nói của ta không?”.
Bách Thuần như không nghe thấy lão nói chuyện, thì thầm với riêng mình: “Thật kỳ quái! Ta có cảm giác đã từng quen biết với người trong họa, nhưng một mỹ nữ xuất sắc như vậy, ta mà gặp được thì cả đời không quên được, tại sao lại khơi khơi nghĩ không ra đã từng gặp nàng ở đâu?”.
Chu Bàn Tử ghé đầu qua nhìn, thần sắc mê mẩn: “Mỹ nữ như vậy, nếu là cực phẩm nhân gian như con gái ngoan của ta, ta chịu dùng một ngàn lượng hoàng kim làm sính lễ cho nàng ta đến Hồng Diệp Lâu, kêu nàng ta là Bách Mị đi!”.
o0o
Kỵ sĩ tựa như từ trong cõi U minh đi ra dần dần đến gần, Quý Nhiếp Đề cuối cùng đã nhìn thấy rõ là ai, thở phào một hơi: “Cô Nguyệt Minh!”.
Mọi người con tim vọt lên tới yết hầu mới từ từ quay về nguyên vị.
Cô Nguyệt Minh giục Khôi Tiễn đến trước mọi người, thong dong thốt: “Ta còn tưởng là nhân mã phương nào, thì ra là Quý Nhiếp Đề đại nhân”.
Quý Nhiếp Đề hồi phục lại như thường, lạnh lùng hỏi: “Nguyệt Minh sao lại xuất hiện ở đây?”.
Cô Nguyệt Minh đáp: “Đương nhiên là vì lo án. Quý đại nhân sao lại xông vào Vân Mộng Trạch?”.
Quý Nhiếp Đề chằm chằm nhìn y, trầm giọng: “Ta tiếp được tin tức Tiết Đình Hao xuất hiện xung quanh Vân Mộng Trạch, lập tức đến đây”.
Cô Nguyệt Minh thở dài một hơi: “Ta có mấy lời bí mật muốn nói với đại nhân”.
Quý Nhiếp Đề quát lớn: “Các ngươi thoái ra xa ngàn bước đi”.
Mọi người nhất tề nghe lệnh, quay đầu ngựa phi ra sau.
Cô Nguyệt Minh đợi cho mọi người đi xa, từ từ thốt: “Tiết Đình Hao đã tự tận bỏ mình”.
Với công phu trấn định như Quý Nhiếp Đề mà vẫn nhịn không được giật nảy mình, khó tin hỏi: “Cái gì?”.
Cô Nguyệt Minh bình tĩnh thốt: “Hắn uống chất độc tự tận! Bất quá trước khi chết có nói cho ta biết hết chuyện năm xưa, khiến cho ta có lối nhìn hoàn toàn khác hẳn đối với toàn bộ sự kiện”.
Quý Nhiếp Đề nói: “Dẫn ta đi xem thi thể của hắn”.
Cô Nguyệt Minh lắc đầu: “Ta đã đáp ứng để hắn ở lại trong Vân Mộng Trạch, đó là điều kiện để hắn chịu nói ra chân tướng”.
Quý Nhiếp Đề không vui: “Hắn là khâm phạm của triều đình, cho dù đã chết, cũng phải đem di thể của hắn đưa về kinh sư, nếu không ta làm sao mà ăn nói đây?”.
Cô Nguyệt Minh cau mày: “Quý đại nhân e rằng phải phá lệ một lần, chuyện này tự có ta gánh nhận, Quý đại nhân chỉ cần đem trách nhiệm đổ lên mình ta là được”.
Quý Nhiếp Đề đôi mắt thần sắc chuyển thành hung tàn, người rành về y đều biết y đã nổi nóng, mà người ở kinh sư càng biết kẻ đắc tội với y đều không có hạ trường tốt đẹp.
Cô Nguyệt Minh quắc mắt nhìn Quý Nhiếp Đề không chút nhân nhượng, cái sáo đó của Quý Nhiếp Đề không có bất kỳ một tác dụng gì đối với y, bởi Cô Nguyệt Minh đâu có sợ chết, hơn nữa còn trông về cái chết. Bất quá Cô Nguyệt Minh cũng đâu muốn gây gổ cứng cỏi quá với Quý Nhiếp Đề, thở dài: “Người chết coi như xong, để cho hắn an nghỉ đi! Tự có ta đi giải thích với Phụng công công. Trọng yếu nhất trước mắt là phải tìm được Sở hạp, chỉ cần có thể đem Sở hạp dâng cho Phụng công công, ông ta tuyệt sẽ không tính tới gì khác”.
Quý Nhiếp Đề lòng biết không làm khó được Cô Nguyệt Minh, nếu Cô Nguyệt Minh lừa gạt y, ngấm ngầm buông tha cho Tiết Đình Hao, qua mắt y, lúc đó y sẽ bắt Cô Nguyệt Minh trốn chạy không kịp ăn uống. Y nhường nhịn: “Nguyệt Minh có nắm chắc tìm được Sở hạp không?”.
Cô Nguyệt Minh đã sớm biết có kết quả này, trừ phi Quý Nhiếp Đề bất chấp mọi thứ xuất thủ với y, thốt: “Ta không nắm